Nhabaond's Blog

Just another WordPress.com weblog

Nhà văn Ma Văn Kháng: Một Nhân Cách Một Đời Văn

Hoàng Linh

Nhận nhiệm vụ Tổng biên tập giao, viết chân dung nhà văn Ma Văn Kháng, tôi thực sự lo lắng. Đám viết lách hậu sinh chúng tôi có nằm mơ cũng không dám nghĩ đến việc được trực tiếp gặp ông, được ông tiếp chuyện, cùng lắm cũng chỉ dám ước ao đứng từ xa chiêm ngưỡng ông bằng da bằng thịt là mãn nguyện lắm rồi. Nhưng tôi đã nhầm, ông dung dị, dễ gần ngay khi tôi điện thoại đến nhà ông để xin gặp. Nhưng viết về ông như thế nào đây, khi con người văn của ông đồ sộ là vậy, tư liệu về ông ngồn ngộn, dày đặc như thế. Viết lách loạng quạng mà không ra gì thì có lỗi với ông, lỗi với độc giả, phí mất cơ hội được gặp ông.

Tác giả “Mùa lá rụng trong vườn” hiện ở trong ngôi nhà xinh xắn tại một ngách nhỏ, ngõ nhỏ trên con phố lớn Nguyễn Chí Thanh. Căn nhà tuy nhỏ, nhưng được thiết kế, bày trí rất thoáng với những khoảng không gian hợp lí khiến ánh sáng ùa vào tràn ngập gian phòng. Chỉ nhìn qua cách bày trí như vậy, cũng đủ thấy chủ nhân ngôi nhà có trình độ thẩm mĩ khá thanh tao, một tư duy khá khoáng đạt. Đã bước qua tuổi bảy mươi, năm nay ông yếu nhiều vì đã trải qua cuộc phẫu thuật động mạch vành. Ông đề nghị với tôi, một là chỉ nói chuyện với nhau được trong thời gian ngắn vì sức khoẻ không cho phép, hai là không đề cập đến vấn đề thời cuộc do lâu lắm rồi ông không có điều kiện để giao thoa với thế giới bên ngoài. Ông không tự nhận mình là trí thức, nhưng ông đã từng rung cảm trước những cực nhọc của giới trí thức Việt Nam những năm 60, 70, 80 của thế kỉ trước. Đó là cuộc lột xác của trí thức nước ta trong làn sóng cách mạng. Lớp trí thức Việt Nam sau cách mạng đã mang một diện mạo mới, phong cách mới khác hẳn lớp trí thức trong chế độ cũ. Họ hoà mình vào với cộng đồng, xoá đi cái ranh giới ngăn cách của sự phân cấp trong xã hội, nhưng cũng phải vật vã vì sự nhọc nhằn của dân tộc, vì thiếu đi một cơ sở kinh tế – xã hội làm nền tảng, rồi lại bị lát cắt của chiến tranh chen ngang và chững lại bởi bao thử nghiệm tìm kiếm. Nhưng sự bất hạnh của lớp trí thức mới còn do ở sự phân hoá ngay trong nội tại, để xuất hiện một dạng gọi là trí thức, hay nói cách khác là trí thức rởm, với bao thói xấu, lưu manh, bon chen, ti tiện, kèn cựa, hãnh tiến, ganh ghét; thói đạo đức giả và cơ hội; sự cằn cỗi, thoái hoá về nhân cách và đạo đức… tất cả xói vào tim ông. Và từ nỗi đau đó, con người văn chương trong ông trỗi dậy, để vạch mặt, đặt tên cho xã hội dễ nhận dạng.

Kể cũng lạ, ông sinh ra vốn có số làm lãnh đạo. Có thể sơ lược trích ngang về ông như thế này: Ông tên thật là Đinh Trọng Đoàn, quê gốc phường Kim Liên, quận Đống Đa, TP Hà Nội. Ông tham gia quân đội từ khi còn là thiếu sinh quân, sau đó được học tập tại Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc, rồi được về làm Hiệu trưởng Trường cấp 2 thị xã Lao Cai. Được ít năm, ông quay trở về học Đại học sư phạm Hà Nội, ra trường ông tiếp tục xung phong lên dạy học ở thị xã Lao Cai, với cương vị Hiệu trưởng trường cấp 3. Về sau ông được Tỉnh uỷ điều về làm thư kí cho Bí thư Tỉnh uỷ, rồi làm Phó Tổng biên tập báo Lao Cai. Sau khi đất nước thống nhất, ông quay về công tác ở Hà Nội, từng làm Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động, Uỷ viên Ban chấp hành, Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn.

Trời đã ban cho ông cái số làm lãnh đạo, nhưng con người văn chương trong ông nào có chịu. Khi còn công tác ở Lao Cai, ông đã coi đó là quê hương thứ hai của mình. Ông yêu vùng đất đó, nơi mà cuộc sống người dân có phần lam lũ, hoang sơ, đơn giản, chất phác và phải chịu quá nhiều sức đè nén từ các hủ tục lạc hậu. Nhưng ở nơi đó, những thói xấu, sự phân hoá đạo đức chưa đặt chân được tới. Ông dành hết tình cảm của mình cho vùng đất ấy đến độ am hiểu hầu hết phong tục tập quán của bà con các dân tộc. Tại đây ông kết nghĩa với ông Ma Văn Nho, Phó Chủ tịch huyện Bảo Thắng. Ông Nho vốn là người kinh gốc Phú Thọ, thoát li từ thời kháng chiến chống Pháp, rồi đổi sang họ Ma. Đinh Trọng Đoàn cũng theo người anh kết nghĩa, cải họ tên thành Ma Văn Kháng. Đó cũng là minh chứng cho tình cảm của ông với bà con các dân tộc ở Lao Cai. Ông luôn tâm nguyện rằng, phải sống chan hoà với đồng bào dân tộc như tấm gương của anh Nho, hãy sống hết mình vì nhân dân trước đã, sau đó mới nói đến chuyện làm cái gì đó hợp với sở trường của mình.

Tình yêu ấy đã thôi thúc ông viết văn, viết báo. Những trang viết đầu tay của ông toát lên cái nhanh nhạy của một cây bút trẻ, hăm hở vào nghề, tự tin, mạnh mẽ và thiết tha. Truyện ngắn “Phố cụt” được in báo năm 1961 đã mở đầu văn nghiệp của ông. Từ đó ông hăm hở đến các bản Mường, vạch lau lách mà đi, sắn quần mà lội suối, chống gậy mà leo vách đá… để ghi lại từng chi tiết của cuộc sống, để trải nghiệm mà viết. Cứ thế ông cần cù, bền bỉ, chắt chiu từng giọt tinh tuý của cuộc sống rồi bầy lên tác phẩm. Ông viết, xuất hiện đều đặn trên các mặt báo và nhanh chóng chiếm được cảm tình của độc giả.

Thời gian ngồi trên ghế trường Đại học sư phạm đã giúp ông thấm thía, nhận ra rằng, chỉ lao vào đời sống, “cày sâu cuốc bẫm” nó thôi, thì vẫn chưa đủ, khó mà vươn xa được, mà phải học thầy cô, bạn bè, học từ sách vở nữa. Khi kiến văn được mở rộng, vốn sống trực tiếp được bổ sung bằng vốn tri thức, thì tác phẩm sẽ trở nên cứng cáp, có sinh lực dồi dào và bền bỉ sống mãi với thời gian.

Với ông, dường như có sự tương hợp giữa thành nhân và đắc đạo văn chương.Viết, trải nghiệm, đau đớn rồi lại viết. Cứ thế các tác phẩm, những đứa con tinh thần của ông ngày càng lớn lên, đồ sộ, lừng lững đứng chung vào hàng ngũ những tác phẩm của các nhà văn gạo cội của nước nhà. Ông nói: Viết văn thì phải đau mới viết được. Đau thì mới thấm thía, mới bật ra được và như vậy tác phẩm mới hay, mới đậm chất nhân văn. Chứ cứ nhơn nhơn với những thú vui ngoài xã hội thì lấy đâu ra tác phẩm hay. Và ông đã thực sự đau đớn sau những trải nghiệm trên đường đời, để khi quay lại chốn đô thị phồn hoa, ông đã giúp chúng ta nhận diện chính xác cơn biến động của lịch sử, những gương mặt thị dân, bọn trí thức rởm, bọn hợm hĩnh… qua những tác phẩm và từng nhân vật. Tiểu thuyết “Mưa mùa hạ” đã mở đầu cho một hệ viết mới của ông gồm: “Mùa lá rụng trong vườn”, “Ngày đẹp trời”, “Trái chín mùa thu”, “Côi cút giữa cảnh đời” và “Đám cưới không có giấy giá thú”. Quả thực, “Mưa mùa hạ” đã gây sốc cho những người mang tư tưởng thủ cựu, họ cho rằng như vậy là “có vấn đề”, rằng nó đã đụng chạm đến sự an toàn của xã hội, khiến cho độc giả nghi ngờ về sợ tốt đẹp của chế độ, khi để cho hai nhân vật chính diện chết, người bị lũ cuốn, người thì chết bệnh. Có kẻ còn cho rằng, ông đã đưa quá nhiều yếu tố tình dục vào tác phẩm (điều mà khi đó đang còn là cấm kị), khi ông đã tả cảnh giao hoan của loài mối, từ đó xây tổ làm hại thân đê; nó như gợi lên sự ví von giữa những tổ mối làm hại đê với thứ tổ gì đó đang có nguy cơ làm hại nhân quần. Ngược lại, tác phẩm cũng thu hút được sự ủng hộ của những người cấp tiến.

Và “tai nạn nghề nghiệp” đã đến, ông phải trải qua một cuộc họp gay gắt tại Viện Văn học, để các bên cùng giãi bày quan điểm của mình. Cuối cùng mọi việc cũng trở lên rõ ràng, đó là một tác phẩm tốt, dám dũng cảm nhìn thẳng vào những bê bối của hiện thực, khẳng định những mặt tích cực và cho thấy cái sự nghiệp xây dựng đất nước vẫn còn gian truân lắm. Sau “Mưa mùa hạ”, lại đến “Mùa lá rụng trong vườn”, ông đã vẽ lên khá đầy đủ chân dung của sự biến động xã hội, khi những giá trị truyền thống từng ngày bị phá vỡ bởi sự xô đẩy của tiến trình lịch sử; sự tha hóa của đạo lí nhân sinh; sự giằng xé giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái ti tiện và lòng nhân ái…Tất cả chỉ xảy ra trong một khuôn viên bé nhỏ, gia đình truyền thống của một ông giáo. Cái hay trong tác phẩm này là sự giằng xé không chỉ xảy ra giữa người này với người khác, mà ngay chính trong bản thân mỗi nhân vật, rồi cái gì phải mất đi cũng sẽ mất đi theo một quy luật, để con người phải tự thoát ra để đi tìm những giá trị mới của cuộc sống. Công bằng mà nói, ở thời điểm đó mà viết được như vậy thì phải bản lĩnh lắm, và phải có nhân cách mới làm được.

Hơn bốn chục năm trôi qua, ông đã miệt mài cống hiến cho nền văn học nước nhà với hàng chục cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn. Vậy mà giờ đây, tuy sức khỏe không còn sung mãn nữa, ông vẫn tiếp tục viết, tiếp tục thực hiện những dự định lớn lao nhằm để lại di sản văn chương cho hậu thế. Ông cho biết, hiện ông đang tập trung làm ba việc chính, đó là viết hồi kí, hiệu chỉnh lại những tác phẩm đã in và chưa in, viết truyện ngắn. Ông nói: Lớp trẻ bây giờ viết hay lắm, có trí tuệ hơn lớp chúng tôi nhiều. Nhưng dường như họ còn thiếu sự trải nghiệm và nỗi đau nhân tình thế thái. Có thêm được hai yếu tố đó thì tác phẩm của họ chắc chắn cũng sẽ rất hay. Ông cũng nhắn nhủ lớp trẻ rằng, hãy dũng cảm lao vào cuộc sống, hãy sống hết mình đi, nhưng văn chương không nên hiện thực, tự nhiên quá, mà phải được chưng cất, kết tinh để thăng hoa, mang lại giá trị cho muôn đời.

Tháng Chín 24, 2010 - Posted by | Văn học

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: